Chiếc áo người du tử

Mẹ may từng dấu đỏ
Trên áo người đi xa
Sợ lòng con non dạ
Áo lẫm đời người ta.

Con chinh thân hồ hải
Sờn áo vải năm xưa
Nhờ đường kim mẹ nhặt
Nắng mưa chẳng rách lòng.

Có những ngày long đong
Áo yên nằm trong tủ
Một chiều thu trở gió
Vải xưa thấm lệ ròng.

Con lặng nhìn mũi chỉ
Màu son đã bạc rồi
Nhưng vẫn còn in rõ
Chiều hôm dáng mẹ ngồi.

Mẹ ơi…

Phận đời du tử lênh đênh,
Lòng con tấc cỏ sao đền ba xuân ?

Jochiwon, tháng Chín năm 2017 (Vu Lan, năm Đinh Dậu)
Trí Như cảm tác khi đọc bài thơ Du tử ngâm của Mạnh Giao qua lời bình của Nguyễn Văn Chánh.

[…]

Xuống tới thơ Đường, trong số gần 50 ngàn bài thơ do người đời Thanh sưu tập trong bộ Toàn Đường thi, dường như chỉ có bài “Du tử ngâm” của Mạnh Giao (751-814) là được biết tới nhiều nhất. Bài thơ chỉ có 6 câu đơn giản, nhưng cũng là bài thơ hay nhất từ trước tới nay mô tả tấm lòng người mẹ:

Từ mẫu thủ trung tuyến,
Du tử thân thượng y.
Lâm hành mật mật phùng,

Ý khủng trì trì quy.
Thùy ngôn thốn thảo tâm,

Báo đắc tam xuân huy?

Tên bài thơ có nghĩa “Khúc ngâm của người du tử”, mà cụ Trần Trọng Kim còn dịch “Bài hát người con đi xa”:

Mẹ từ sợi chỉ trong tay,
Trên mình du tử áo may vội vàng.
Sắp đi mũi chỉ kỹ càng,
Sợ con đi đó, nhỡ nhàng trễ lâu.
Chút lòng tấc cỏ dễ đâu,
Bóng ba xuân đáp ơn sâu cho vừa.

Hai câu “Lâm hành mật mật phùng/ Ý khủng trì trì quy” (Khi con sắp ra đi mẹ may nhặt mũi kim, trong ý sợ rằng con sẽ lâu về) nói lên một cách cảm động tâm ý sâu xa của bà mẹ với tấm lòng trìu mến thiết tha lo cho con trẻ trên bước đường tha phương lưu lạc.

Riêng hai câu cuối, “Thùy ngôn thốn thảo tâm/ Báo đắc tam xuân huy?”, ví lòng người mẹ hiền với ánh nắng dịu dàng của tiết ba xuân, mà người hiếu tử chẳng biết phải báo đáp sao cho vừa.

Đây là bài thơ hay trong số ít ỏi những bài thơ Đường ca tụng tấm lòng người mẹ. Lời lẽ giản dị, chân thật, dễ hiểu, vì phát xuất từ trái tim chân thật.

Được biết, Mạnh Giao nhà nghèo nhưng được mẹ hy sinh, chăm lo nuôi nấng cho đến lúc thành tài. Khi được làm quan muộn màng ở tuổi 50, ông đã vội đón mẹ về chung sống với mình. Tác giả đã sáng tác bài thơ  trong bối cảnh đón mẹ lên Lật Dương như lời chú giải của ông: “Nghênh mẫu Lật Dương tác” (Làm khi đón mẹ đến Lật Dương).

__trích Nguyễn Văn Chánh, Người Mẹ Trong Văn Chương Cổ Điển Trung Quốc

Đêm trăng, người tựa đầu

Đà giang trôi,
Hàn giang trôi.
Trôi dạt quê xưa bỗng nghẹn dòng.
Nước lặng non soi điểm điểm sầu.

Nhớ xa xa,
Tủi tủi lòng.
Tủi hận nghìn thu biết có phai.
Hỡi người hiên cũ tựa đầu chờ ai ?

Jochiwon vào thu, tháng Tám 2017
Trí Như cảm tác khi đọc Trường Tương Tư của Bạch Cư Dị

Trường tương tư
Bạch Cư Dị

Biện thuỷ lưu,
Tứ thuỷ lưu,
Lưu đáo Qua châu cổ độ đầu.
Ngô sơn điểm điểm sầu.

Tứ du du,
Hận du du,
Hận đáo quy thời phương thuỷ hưu.
Nguyệt minh nhân ỷ lâu.

Trí Như phỏng dịch xuôi

Nước sông Biện chảy,
Nước sông Tứ chảy,
Chảy đến [gặp nhau ở] châu Qua, nơi đầu một bến đò xưa.
Núi Ngô như điểm lấm tấm những nỗi sầu.

Tương tư mênh mông vời vợi,
Hận cũng mênh mông vời vợi.
Nỗi hận đi ngược thời gian về thuở ban sơ lúc đầu thì ngừng lại [và có lẽ, buông bỏ].
Lầu trăng sáng, có ai đang tựa đầu.

Tư Mẫu

Nằm mộng quê xưa thoảng nhớ người
Chiều thu trở gió buổi từ ly
Hiên cũ mưa rơi người có lạnh,
Mắt buồn còn dõi bóng ai đi ?

Jochiwon, tháng Tám 2017
Trí Như cảm tác khi đọc bài thơ Tư Mẫu của Dư Cung

Tư Mẫu
Dư Cung

Sương vẫn lô hoa lệ thấp y,
Bạch đầu vô phục ỷ sài phi.
Khứ niên ngũ nguyệt hoàng mai vũ,
Tằng điển già sa địch mễ quy.

Bản dịch xuôi của Trần Văn Chánh:

Trông thấy sương rơi trên đám hoa lau mà lệ rơi ướt áo,
Mẹ già không còn đứng tựa cửa trông ngóng con như mọi khi.
Nhớ lại cơn mưa đầu mùa hạ hồi tháng năm năm rồi,
Con đã từng cầm cố chiếc áo cà-sa mua gạo về nhà nuôi mẹ.

Tương như

Sương khói lững lơ dòng nước cũ
Núi xa mây rũ lạnh hơi chiều
Người đi trở gót lòng sông đục
Kẻ ở tương như hỏi ít nhiều ?

Jochiwon, tháng Tám, 2017
Trí Như cảm tác khi đọc bài thơ:

Biệt nhân (kỳ II)
Vương Bột

Giang thượng phong yên tích,
Sơn u vân vụ đa.
Tống quân Nam Phố ngoại,
Hoàn vọng tương như hà.

Mục tử hồi cố hương

Người lữ khách dừng chân. Chàng ngồi xuống bên một lối mòn vắng, đăm chiêu nhìn về phía cánh rừng xa. Chiều xuống chậm theo từng cơn gió lạnh. Gió đầu hạ còn dư âm chút tiết mùa xuân. Nhìn xuống vực sâu từ đây sang mé rừng bên kia, chàng bỗng thấy lòng khơi những nỗi chênh vênh. Gió mải miết lay cánh rừng xào xạc.

Không phải chàng sợ cái vực sâu thăm thẳm kia mà thấy lòng chếnh choáng. Chàng chỉ thoáng buồn cho những mảnh đời chàng đã gặp qua. Mà cũng không phải buồn nữa, đúng hơn là thất vọng. Nỗi thất vọng càng làm cho hành trình phía trước thêm cô độc. Nhưng cô độc là cô độc với thế nhân này thôi. Còn bạch vân, còn rừng già, và còn cả con gió — như chiều hôm nay — đang vỗ về chàng.

Chàng nhớ lại những người bạn đường từ thuở lang bạt cho đến ngày theo đuổi chí tang bồng. Ôi thế nhân lòng người thay đổi. Nhưng, có phải chăng lòng người thật sự đổi thay. Không, không phải. Lòng người vẫn vậy. Bản chất của lòng người vẫn vậy. Chỉ có sự cảm niệm của chàng về lòng người là thay đổi.

Người lữ khách nhớ rõ từng con dốc chàng đã đi qua trong hành trình của mình. Ở mỗi phương trời, chàng thấy ánh trăng đẹp mỗi vẻ khác nhau. Nhưng trăng kia chỉ là một. Như lòng người kia chỉ là một. Chẳng qua chàng chưa có được một ánh mắt từ bi để cảm lòng nhân thế, nên thành ra nhận lãnh lấy sự hoài nghi cho riêng mình.

Chàng nhớ lại lời huấn dụ của Thiên Mục thiền sư ở Hoàng Tước Sơn hôm trước. Người dặn chàng nên nhìn cuộc đời này bằng một ánh nhìn từ bi. Từ bi không phải là xót thương, mà từ bi là hành động của mình đừng để khơi lên lòng bất thiện trong mỗi con người.

Chàng lặng nhìn ánh chiều đang lấp dần vực thẳm. Xa xa, khói lam đã trắng mấy nóc nhà.

Jochiwon, tháng Bảy năm 2017
Trí Như

Dưới cánh sen hạ

Hạ về sen nở hồng ao nhỏ
Gió thoảng thơm hương nức nở chiều
Ơn người lãm khách hoa không hái
Chim uyên còn chỗ trú mưa sa.

Hongik, tháng Sáu, 2017
Trí Như cảm tác khi đọc bài thơ Vô đề của Thiền sư Từ Thụ Hoài Thâm (1077-1131).

Vô đề

Yên lung hạm ngoại sai sai lục,
Phong hám trì trung bính bính hương.
Đa tạ hoán sa nhân bất chiết,
Vũ trung lưu đắc cái uyên ương.