Bụi vàng

Mùa ở đây, mấy hôm rồi trở gió
Từng mái nhà góc phố bụi hoàng vân
Con nước trong lặng chuyển màu xuân đậm
Những tàng thông rủ rỉ gọi nhau vàng.

Ta nhìn lại năm năm trường tá túc
Cùng chốn này đủ biết mấy buồn vui
Ngày xưa đến tuyết vừa tan đông cũ
Ít hôm đi nắng hạ chắc bùi ngùi.

Giờ phiêu bạt, đâu là vùng đất mới,
Trăng có vàng như trăng ở nơi đây?
Đời sống hẳn sẽ thêm nhiều vất vã
Chí tang bồng há phải cuộc rong chơi.

Ta thầm hỏi: ‘trăng quê giờ đâu nhỉ,
Bên mé rừng, hay trên sóng lênh đênh?’
Trăng chỉ một như lòng người chỉ một
Ở khơi xa, núi cả, lẫn hiên nhà.

Gửi theo trăng ta nhắn miền miên viễn
Một tâm hồn đầy mộng ước thiết tha
‘Người sẽ đến xin đất trời nâng đỡ,
Mỗi bước chân nguyện đắp nẻo sơn hà.’

Jochiwon, tháng Năm, 2018
Trí Như cảm tác khi đọc Túc Chương Đình Dịch của Bạch Cư Dị.

Túc Chương Đình Dịch

Dạ bán Chương Đình dịch,
Sầu nhân khởi vọng hương.
Nguyệt minh hà sở kiến,
Triều thuỷ bạch mang mang.

Bạch Cư Dị (772—846)
(nguồn: báo “Ngày nay”, số 148, 1939, thivien đăng lại)

Trú ở trạm Chương Đình

Nửa đêm ở trạm Chương Đình,
Người thường mang tâm sự (sầu nhân) khởi lên những vọng [tưởng] nhớ cố hương.
Nhìn trăng sáng mà dường như có thấy trăng đâu [hỏi trăng đang ở nơi nào: ở trạm Chương Đình hay ở cố hương],
Rồi nhìn những ngọn sóng bạc đầu [tựa như mái đầu bạc] mà lòng thấy mang mang [vừa mênh mông, dập dìu, vừa vô định, mờ mịt].

Trí Như tạm dịch

Nhắn người bạn cũ

cho những ngày sắp sẽ lênh đênh

Tiễn nhau đến cuối con đường,
Hỏi người có biết mình về phương nao.
Cảm thương cùng bậc anh hào,
Cô thân phiêu bạt bến nào dừng chân.
Tử sanh gối mộng tu thân,
Đâu vì manh áo phân vân nguyện lòng.
Hỡi người cất bước thong dong,
Hẹn mai hội ngộ bên dòng phù vân.

Trí Như cảm tác khi đọc Biệt Tiết Hoa của Vương Bột.
Tháng Tư, 2018

Biệt Tiết Hoa

Tống tống đa cùng lộ,
Hoàng hoàng độc vấn tân.
Bi kinh thiên lý đạo,
Thê đoạn bách niên thân.
Tâm sự đồng phiêu bạc,
Sinh nhai cộng khổ tân.
Vô luận khứ dữ trú,
Câu thị mộng trung nhân.

Vương Bột (649–675)

Tạm biệt Tiết Hoa

Tiễn biệt nhau nhiều đến nỗi hết cả con đường
Gấp gáp chỉ để hỏi bến đỗ nơi nào
Thương cảm và kinh sợ con đường dài vạn dặm
Rét mướt làm đứt đoạn thân trăm tuổi
Nỗi tâm sự cùng nhau là những kẻ phiêu bạt
Sống (sinh nhai) cùng với những nỗi khổ đau
Bất luận là kẻ đi hay là người ở
Đều hẹn gặp nhau trong mơ.

(Trí Như tạm dịch nghĩa dựa trên bản dịch nghĩa của thivien.net)

Chiếc áo người du tử

Mẹ may từng dấu đỏ
Trên áo người đi xa
Sợ lòng con non dạ
Áo lẫm đời người ta.

Con chinh thân hồ hải
Sờn áo vải năm xưa
Nhờ đường kim mẹ nhặt
Nắng mưa chẳng rách lòng.

Có những ngày long đong
Áo yên nằm trong tủ
Một chiều thu trở gió
Vải xưa thấm lệ ròng.

Con lặng nhìn mũi chỉ
Màu son đã bạc rồi
Nhưng vẫn còn in rõ
Chiều hôm dáng mẹ ngồi.

Mẹ ơi…

Phận đời du tử lênh đênh,
Lòng con tấc cỏ sao đền ba xuân ?

Jochiwon, tháng Chín năm 2017 (Vu Lan, năm Đinh Dậu)
Trí Như cảm tác khi đọc bài thơ Du tử ngâm của Mạnh Giao qua lời bình của Nguyễn Văn Chánh.

[…]

Xuống tới thơ Đường, trong số gần 50 ngàn bài thơ do người đời Thanh sưu tập trong bộ Toàn Đường thi, dường như chỉ có bài “Du tử ngâm” của Mạnh Giao (751-814) là được biết tới nhiều nhất. Bài thơ chỉ có 6 câu đơn giản, nhưng cũng là bài thơ hay nhất từ trước tới nay mô tả tấm lòng người mẹ:

Từ mẫu thủ trung tuyến,
Du tử thân thượng y.
Lâm hành mật mật phùng,

Ý khủng trì trì quy.
Thùy ngôn thốn thảo tâm,

Báo đắc tam xuân huy?

Tên bài thơ có nghĩa “Khúc ngâm của người du tử”, mà cụ Trần Trọng Kim còn dịch “Bài hát người con đi xa”:

Mẹ từ sợi chỉ trong tay,
Trên mình du tử áo may vội vàng.
Sắp đi mũi chỉ kỹ càng,
Sợ con đi đó, nhỡ nhàng trễ lâu.
Chút lòng tấc cỏ dễ đâu,
Bóng ba xuân đáp ơn sâu cho vừa.

Hai câu “Lâm hành mật mật phùng/ Ý khủng trì trì quy” (Khi con sắp ra đi mẹ may nhặt mũi kim, trong ý sợ rằng con sẽ lâu về) nói lên một cách cảm động tâm ý sâu xa của bà mẹ với tấm lòng trìu mến thiết tha lo cho con trẻ trên bước đường tha phương lưu lạc.

Riêng hai câu cuối, “Thùy ngôn thốn thảo tâm/ Báo đắc tam xuân huy?”, ví lòng người mẹ hiền với ánh nắng dịu dàng của tiết ba xuân, mà người hiếu tử chẳng biết phải báo đáp sao cho vừa.

Đây là bài thơ hay trong số ít ỏi những bài thơ Đường ca tụng tấm lòng người mẹ. Lời lẽ giản dị, chân thật, dễ hiểu, vì phát xuất từ trái tim chân thật.

Được biết, Mạnh Giao nhà nghèo nhưng được mẹ hy sinh, chăm lo nuôi nấng cho đến lúc thành tài. Khi được làm quan muộn màng ở tuổi 50, ông đã vội đón mẹ về chung sống với mình. Tác giả đã sáng tác bài thơ  trong bối cảnh đón mẹ lên Lật Dương như lời chú giải của ông: “Nghênh mẫu Lật Dương tác” (Làm khi đón mẹ đến Lật Dương).

__trích Nguyễn Văn Chánh, Người Mẹ Trong Văn Chương Cổ Điển Trung Quốc

Đêm trăng, người tựa đầu

Đà giang trôi,
Hàn giang trôi.
Trôi dạt quê xưa bỗng nghẹn dòng.
Nước lặng non soi điểm điểm sầu.

Nhớ xa xa,
Tủi tủi lòng.
Tủi hận nghìn thu biết có phai.
Hỡi người hiên cũ tựa đầu chờ ai ?

Jochiwon vào thu, tháng Tám 2017
Trí Như cảm tác khi đọc Trường Tương Tư của Bạch Cư Dị

Trường tương tư
Bạch Cư Dị

Biện thuỷ lưu,
Tứ thuỷ lưu,
Lưu đáo Qua châu cổ độ đầu.
Ngô sơn điểm điểm sầu.

Tứ du du,
Hận du du,
Hận đáo quy thời phương thuỷ hưu.
Nguyệt minh nhân ỷ lâu.

Trí Như phỏng dịch xuôi

Nước sông Biện chảy,
Nước sông Tứ chảy,
Chảy đến [gặp nhau ở] châu Qua, nơi đầu một bến đò xưa.
Núi Ngô như điểm lấm tấm những nỗi sầu.

Tương tư mênh mông vời vợi,
Hận cũng mênh mông vời vợi.
Nỗi hận đi ngược thời gian về thuở ban sơ lúc đầu thì ngừng lại [và có lẽ, buông bỏ].
Lầu trăng sáng, có ai đang tựa đầu.

Tư Mẫu

Nằm mộng quê xưa thoảng nhớ người
Chiều thu trở gió buổi từ ly
Hiên cũ mưa rơi người có lạnh,
Mắt buồn còn dõi bóng ai đi ?

Jochiwon, tháng Tám 2017
Trí Như cảm tác khi đọc bài thơ Tư Mẫu của Dư Cung

Tư Mẫu
Dư Cung

Sương vẫn lô hoa lệ thấp y,
Bạch đầu vô phục ỷ sài phi.
Khứ niên ngũ nguyệt hoàng mai vũ,
Tằng điển già sa địch mễ quy.

Bản dịch xuôi của Trần Văn Chánh:

Trông thấy sương rơi trên đám hoa lau mà lệ rơi ướt áo,
Mẹ già không còn đứng tựa cửa trông ngóng con như mọi khi.
Nhớ lại cơn mưa đầu mùa hạ hồi tháng năm năm rồi,
Con đã từng cầm cố chiếc áo cà-sa mua gạo về nhà nuôi mẹ.

Tương như

Sương khói lững lơ dòng nước cũ
Núi xa mây rũ lạnh hơi chiều
Người đi trở gót lòng sông đục
Kẻ ở tương như hỏi ít nhiều ?

Jochiwon, tháng Tám, 2017
Trí Như cảm tác khi đọc bài thơ:

Biệt nhân (kỳ II)
Vương Bột

Giang thượng phong yên tích,
Sơn u vân vụ đa.
Tống quân Nam Phố ngoại,
Hoàn vọng tương như hà.

Dưới cánh sen hạ

Hạ về sen nở hồng ao nhỏ
Gió thoảng thơm hương nức nở chiều
Ơn người lãm khách hoa không hái
Chim uyên còn chỗ trú mưa sa.

Hongik, tháng Sáu, 2017
Trí Như cảm tác khi đọc bài thơ Vô đề của Thiền sư Từ Thụ Hoài Thâm (1077-1131).

Vô đề

Yên lung hạm ngoại sai sai lục,
Phong hám trì trung bính bính hương.
Đa tạ hoán sa nhân bất chiết,
Vũ trung lưu đắc cái uyên ương.